Sau Hòa ước Patenotre năm 1884, thuế thân ở Bắc Kỳ không còn là nghĩa vụ gắn với quyền lợi làng xã như thời phong kiến, mà trở thành công cụ bóc lột của chính quyền thực dân. Chỉ với 2 đồng 50 xu mỗi năm, một khoản tiền nặng nề đối với người nông dân nghèo, người dân bị trói buộc cả đời vào món nợ thuế, lao dịch và sự kiểm soát khắt khe của bộ máy cai trị thực dân phong kiến.
Sau khi ký được bản Hòa ước Patenotre năm 1884 (Hòa ước Giáp Thân), thực dân Pháp thi hành chính sách chia để trị để cai trị đất nước ta. Chúng chia nước ta làm 3 miền với 3 chế độ cai trị khác nhau. Nam Kỳ với chế độ thuộc địa, có đồng ruộng phì nhiêu, rộng lớn nên đã sớm tiếp cận với kinh tế sản xuất hàng hoá theo kiểu tư bản.

Toàn quyền đại thần Phạm Thận Duật (1825-1885), người thay mặt triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Giáp Thân 1884. Ảnh T.L
Trung Kỳ theo chế độ nửa thuộc địa, nửa bảo hộ với sự hiện diện của triều đình nhà Nguyễn. Riêng Bắc Kỳ hoàn toàn theo chế độ bảo hộ, lại là nơi đất ít, người đông, khí hậu khắc nghiệt nên quan hệ làng xã được duy trì bền vững. Đồng thời, quan hệ giữa địa chủ và nông dân cũng nghiệt ngã hơn ở Nam Bộ. Người nông dân nghèo bị phụ thuộc nhiều vào làng xã và ít có cơ hội thay đổi cuộc sống.
Thực dân Pháp cũng lợi dụng quan hệ giữa chính quyền làng xã với dân chúng rất chặt chẽ để định ra cách cai trị riêng cho Bắc Kỳ. Chúng giữ nguyên bộ máy cai trị của phong kiến để biến tầng lớp này trở thành tay sai đắc lực cho chính quyền Pháp ở Đông Dương bằng cách trao cho họ những quyền lợi về kinh tế và chính trị. Việc thu thuế cũng qua tầng lớp này vì từ thời phong kiến, tất cả mọi thứ thuế đều đánh vào làng xã.
Thuế thân, thuế lao dịch và thuế ruộng đất là hai thứ thuế có chủ yếu dưới thời phong kiến. Sau khi xâm lược và đặt được bộ máy cai trị lên đất nước Việt Nam, thực dân Pháp đã tận dụng triệt để hai thứ thuế này và áp đặt lên một phương thức thu mới với tính chất áp đặt và tận thu làm thay đổi hoàn toàn về bản chất so với thời phong kiến.
Dưới thời phong kiến mà gần nhất là triều Nguyễn, thuế thân chỉ đánh vào nội tịch, tức là dân sở tại, có ít nhiều tài sản nên có khả năng đóng thuế. Vì vậy, người nộp thuế thân cũng được hưởng một số đặc quyền trong làng, xã như được chia ruộng đất công, được tham gia việc làng, được tham gia bầu các chức vụ trong làng, xã.
Dân ngoại tịch (dân ngụ cư) không phải đóng và không được đóng thuế thân nên cũng không được hưởng các đặc quyền trên. Như vậy, dưới thời phong kiến, người nộp thuế thân vừa có nghĩa vụ vừa có quyền lợi khi nộp thuế, bởi đó là chính sách thuế của một nhà nước phong kiến độc lập, không có ngoại bang điều khiển.
Đến thời Pháp thuộc, thực dân Pháp giữ nguyên bộ máy quan lại thời phong kiến ở các làng xã và tận dụng triệt để hai loại thuế chính là thuế ruộng đất và thuế thân, đều là loại thuế trực thu nhưng với phương thức khác mang tính áp đặt, mở rộng đối tượng thu, tăng loại tiền thu.
Thuế thân được định thành xuất, nộp theo từng năm. Mức thuế đối với nội đinh nhiều hơn mức thuế đối với ngoại đinh (nội đinh nộp 2đ50, ngoại đinh nộp 0đ30). Mức thuế này bao gồm cả tiền thuế thân chính ngạch và tiền chuộc ngày công lao dịch. Cách tính mức thuế này tồn tại đến năm 1919. Sau năm 1919, chế độ đồng nhất thuế ra đời, việc phân chia nội đinh, ngoại đinh không còn nữa mà đánh đồng tất cả người có tài sản hay không có tài sản đều chung một mức 2đ50.
Đó là sự bất công trong chế độ thực dân, phong kiến. Thực dân Pháp tận dụng tất cả các đối tượng nộp thuế nhưng lại ưu đãi một số đối tượng người Việt phục vụ cho bộ máy cai trị của Pháp như: Viên chức của chính quyền bảo hộ, những người có bằng tòng cửu phẩm trở lên, quân nhân đương nhiệm, thông ngôn, nhà nho đang làm việc tại các sở dân sự và quân sự, chánh phó tổng... Điều này thể hiện rõ ý đồ mua chuộc người Việt làm tay sai cho thực dân Pháp, chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất của một dân tộc.
Để kiểm soát việc đóng thuế thân, chính quyền thuộc địa đã cấp thẻ thuế thân cho dân đinh sau khi nộp đủ thuế. Nó có giá trị như thẻ căn cước. Thẻ thuế thân có các loại màu khác nhau để phân biệt giữa nội đinh, ngoại đinh và các đối tượng miễn giảm thuế. Màu của thẻ thuế thân cũng được thay đổi theo từng loại và từng năm. Thẻ phát ra phải có điểm chỉ của người được cấp và dấu của lý trưởng làng sở tại công nhận đã nộp thuế.
Dân đinh mang theo người và xuất trình khi cần thiết. Nếu họ bị kiểm tra không có thẻ, họ có thể bị bắt giam. Người bị mất thẻ xin cấp lại phải nộp bằng khoản tiền thuế. Việc dùng thẻ đã trở thành một hệ thống kiểm soát chặt chẽ việc thu thuế thân và quản lý nhân lực dưới thời thực dân, phong kiến.
Việc đi sưu của dân đinh vẫn được áp dụng trong thời Pháp thuộc nhưng dùng cách tính khác có lợi cho chính quyền thực dân và hại đến người dân. Lúc này, người đi sưu không được nuôi ăn và nhận tiền như thời phong kiến mà ngược lại, phải chuộc bằng tiền một số ngày, còn một số ngày phải đi lao động công ích. Như vậy, dân đinh, những người lao động chính của mỗi gia đình đã bị bóc lột nặng nề hơn thời phong kiến. Chế độ lao dịch nặng nề cùng với món nợ thuế thân đã làm cho nhiều gia đình nông dân Việt Nam điêu đứng, bần cùng.
Chính sách thuế của thực dân Pháp ở Bắc Kỳ cũng như ở Việt Nam là một sự kết hợp giữa bóc lột phong kiến với bóc lột tư bản chủ nghĩa, tức là kết hợp giữ bóc lột địa tô (bằng hiện vật) với bóc lột giá trị thặng dư (bằng tiền). Thực dân Pháp duy trì và lợi dụng giai cấp phong kiến vì mục đích bóc lột lợi nhuận kinh tế ở nông thôn.
Còn giai cấp phong kiến Việt Nam lại dựa vào thực dân Pháp để vơ vét cho bản thân. Trên thực tế, người dân vừa phải nộp thuế của nhà nước, vừa phải nộp những khoản phụ thu của chính quyền phong kiến địa phương. Vì vậy, mức thực nộp thuế của nhân dân dưới thời Pháp thuộc là rất nặng nề. Chính sách thuế và cách thu thuế thực dân Pháp càng đẩy nhanh quá trình phân hoá giầu nghèo, làm tăng mâu thuẫn trong xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam.
Vietbf @ Sưu tầm