Dù sao th́ cũng phải chấp nhận rằng cũng có nhiều người bám víu vào sự sống này, tất nhiên là một sự sống mang đầy những thứ bất toại nguyện, và đồng thời tin vào thực thể của “cái tôi” của chính họ, khăng khăng đến độ có thể nói rằng ư nghĩ sẽ bị biến mất vào cơi vô tận (chết) không đáng cho họ quan tâm bằng chính niềm tin vào sự hiện hữu mang tính cách cá thể này (tức cái tôi) của họ (đang có), và họ chỉ ước mong sao cho sự hiện hữu này (cái tôi của họ đang có) phải trường tồn dù là dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác, chỉ cần một điều kiện duy nhất là phải vĩnh viễn mà thôi (có nghĩa là họ chỉ muốn được sống măi không bao giờ chết, dù dưới thể dạng linh hồn hay vong linh, dù trong thế giới này hay một cơi nào khác cũng được. Chỉ khi nào phải đối đầu với những trường hợp tuyệt vọng và không c̣n chủ động được tâm thức của ḿnh nữa th́ khi đó mới nảy ra ư định “muốn” tự tử cho rồi. Đối với những người luôn bám víu như thế sẽ rất khó cho họ có thể hiểu được tánh không là ǵ).
Hăy cứ cho rằng ngay trong lúc này [nếu] chúng ta đang hiện hữu với tư cách là những cá thể [cá biệt], th́ tất nhiên chúng ta sẽ phải lo sợ v́ đặc tính cá thể ấy cũng sẽ bị mất đi vào một lúc nào đó (chết) và v́ thế cũng sẽ khó cho chúng ta tránh khỏi lo âu: thế nhưng đối với một nhà thần bí (tức một người tu tập) cao thâm th́ người này sẽ hiểu rằng qua kinh nghiệm cảm nhận sống thực của ḿnh (tức là khi đă đạt được tánh không) th́ không hề có một nhân dạng mang tính cách cá thể (individuality) nào hiện hữu cả, do đó ư nghĩ bị mất đi đặc tính cá thể (hay nhân dạng, hay cái tôi) của ḿnh cũng sẽ hoàn toàn không hàm chứa một ư nghĩa nào cả. Tất cả những ǵ mà chúng ta có thể bị mất đi – trong kiếp sống này hay trong kiếp sống tương lai – ấy chỉ là các thứ ảo giác vô nghĩa phát sinh từ sự mong muốn được hiện hữu dưới những h́nh thức cá thể (“cái tôi” hay cái “của tôi”). Nếu hiểu rằng các thứ ảo giác ấy chính là nguyên nhân tạo ra đủ mọi thứ bất toại nguyện cũng như hầu hết các nỗi khổ đau trong cuộc sống, th́ c̣n có niềm hạnh phúc nào có thể to lớn hơn khi đánh mất nó!
Nếu tôi phải đưa bài viết ngắn này cho một trong số các vị thầy Tây Tạng hay Trung Quốc của tôi xem th́ biết đâu vị này cũng sẽ có thể bảo tôi rằng:
“Hăy xé bỏ nó đi! Đấy chỉ là những thứ biện luận triết học làm mất th́ giờ vô ích cho mi và cho cả người khác, toàn là những thứ luận bàn vô ích về những ǵ mà Kinh Sách gọi là tánh không! Hàng chục pho sách bàn về chủ đề ấy cũng không giúp cho mi hay cho người khác đạt được một sự hiểu biết đúng đắn hơn. Cái tánh không ấy hiện đang nằm trong tâm thức của chính mi đấy và cả trong cùng khắp mọi nơi. Điều cần làm là phải cảm nhận được nó. Hăy chấm dứt ngay cái tṛ viết lách và t́m ṭi trong sách vở, và phải trực tiếp t́m cách thực hiện sự cảm nhận ấy ngay đi”.
Tôi nghĩ rằng khi nêu lên lời khuyên này tất sẽ khiến cho nhiều người phải mỉm cười: bởi v́ ngay cả những vị thầy uyên bác nhất cũng đều phải đi đến chỗ cần phải viết ra hay nói ra – dù chỉ vừa đủ để giúp cho các đệ tử của ḿnh ư thức được là có một kho tàng cần phải khám phá nếu không th́ tất sẽ khó để giúp cho họ tránh khỏi t́nh trạng đánh mất hết năm tháng của đời ḿnh mà không hề nghĩ đến việc phải t́m kiếm cho bằng được cái kho tàng ấy.
Tuy nhiên phải nói rằng chưa bao giờ tôi được nghe thấy bất cứ một vị thầy nào của tôi tự nhận rằng ḿnh có thể định nghĩa được tánh không là ǵ (tất nhiên là như thế, bởi v́ đấy chỉ là một kinh nghiệm cảm nhận trong tận cùng của tâm thức họ, cái cảm nhận ấy không thể mô tả bằng lời được). Họ chỉ quan tâm duy nhất đến trọng trách phải làm thế nào để có thể đưa ra các phép luyện tập giúp cho bất cứ một người đệ tử nào nếu cần mẫn cũng đều có thể tự ḿnh khám phá ra tánh không bằng cách vượt thoát khỏi những ranh giới chật hẹp của sự lư luận logique, luôn bị vướng mắc trong mọi thứ khái niệm và nguyên tắc nhị nguyên, hầu giúp cho họ ḥa nhập vào bầu không gian vô biên của sự cảm nhận đơn thuần.
Các phương pháp luyện tập của người Tây Tạng nhằm giúp mang lại sự cảm nhận trên đây thật hết sức đa dạng. Sự đa dạng ấy là một cách thích nghi với các loại chướng ngại (ngăn chận việc luyện tập) cũng rất đa dạng. Các chướng ngại này sở dĩ rất đa dạng là v́ trí thông minh, các khả năng bẩm sinh cũng như kinh nghiệm của các người tu tập rất khác biệt nhau. Tuy nhiên hầu hết các phương pháp trên đây đều có một căn bản khá giống nhau, đấy là cách chuẩn bị cho tâm thức vươn lên nhờ vào phép thiền định dựa vào cách thường xuyên tŕ tụng câu kinh man-tra (chữ man- có gốc từ chữ Phạn manas, có nghĩ là “tâm thức”; chữ -tra có gốc từ chữ Phạn traya, có nghĩa lả “bảo vệ” hay “che chở”. Các câu man-tra là các câu tŕ tụng mang tính cách thiêng liêng của Kim Cương Thừa – c̣n gọi là Tan-tra Thừa – nhằm che chở tâm thức của người tu tập) mang ư nghĩa như sau: “tánh không là bản chất của tất cả mọi thứ dharma (tất cả mọi đối tượng, khái niệm, v.v…) (nói một cách tổng quát hơn là tất cả mọi hiện tượng) và chính tôi th́ tôi cũng chỉ là bản chất ấy của tánh không”.
|