Vì vậy “nhậu nhẹt” trở thành “văn hoá” thời CS. Thanh niên biết uống rượu rất sớm, phụ nữ cũng xem uống rượu là một nghi thức trong xã giao. Dần dần hình thành tâm lý người không chịu uống rượu là tự cô lập, là phản “văn hoá”. Đàn ông không uống rượu xem là “bản lĩnh” kém, mất nam tính, già trước tuổi hay già quá “đát”. Phó thường dân cho đến cán bộ, đảng viên, đại cán, đại gia đều uống rựơu, bia. Vui uống, buồn uống, thành uống, bại cũng uống, “sáng xỉn, chiếu say, tối la đà”. Chính tâm lý ấy làm một số người phải cố gắng theo số đông, làm vừa lòng tập thể.
Hậu quả vô cùng tai hại cho cá nhân, gia đình và xã hội. Sức khỏe toàn dân xuống. Bịnh xã hội tăng. Ung thư, xơ gan, tiểu đường, cao máu, thận suy, tì loét phổ biến. Bạo hành gia đình ở Việt Nam liên quan đến bia rượu tăng Cướp giựt đường phố tăng. Nhậu nhẹt đánh chém nhau tăng. Cán bộ đảng viên hư hỏng, tham nhũng, trễ giớ làm việc vì nhậu tăng. Tai nạn giao thông tăng. Nạn “bia bọt” đã thành quốc nạn trong thời CS./.
Vi Anh
|